Top 5 câu chuyện về các nhà bác học đáng học hỏi cho đến ngày nay

Cuộc sống vốn dĩ trăm lời mười ý, do đó điều quan trọng cho sự thành công đó là bạn phải thực sự kiên định và vững tâm với ước mơ của mình. Chỉ cần bạn chú tâm thực hiện thì mọi điều dèm pha, khó khăn ắc tự trở thành tấm thảm trải dẫn lối cho sự thành công của bạn.
Top 5 câu chuyện về các nhà bác học đáng học hỏi cho đến ngày nay

CHIA SẺ TRÊN

Share on facebook
Facebook
Share on pinterest
Pinterest
Share on linkedin
LinkedIn

NỘI DUNG BÀI VIẾT

Cuộc sống của bạn sẽ tuyệt vời hơn với những câu chuyện các nhà bác học này

Bạn có biết, trong cuộc sống của chúng ta nhờ có sự hiện diện của những bài học tuyệt vời mà các nhà bác học để lại giúp chúng ta có thêm kinh nghiệm sống hơn, biết đứng lên từ những thất bại hơn, biết khiêm nhường, kính trọng và cả sự định hướng về tương lai hơn. Sau đây hãy cùng Theogotvinhan.com khám phá qua những câu chuyện về các nhà bác học đáng học hỏi cho đến ngày nay nhé!

Albert Einstein

Albert Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 tại Ulm, Đức với cha mẹ là Hermann và Pauline là người Do Thái không hành nghề. Khi Albert được một tuổi, gia đình chuyển đến Munich, nơi ông đã lớn lên và được đi học.

Cha và chú của Albert điều hành một công ty sản xuất thiết bị điện. Điều này đã giúp thúc đẩy Albert quan tâm đến khoa học và toán học hơn. Tuy nhiên, ông lúc bấy giờ được coi là một học sinh kém ở trường và hay chống lại kỷ luật nghiêm khắc.

Top 5 câu chuyện về các nhà bác học đáng học hỏi cho đến ngày nay

Khi gia đình chuyển đến Ý, Albert đã bỏ học và theo họ. Ông đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học ở Thụy Sĩ, đạt điểm cao nhất trong các môn toán và vật lý. Từ năm 1896 đến năm 1900, Albert học tại Đại học Bách khoa Zurich, tốt nghiệp với bằng sư phạm. Tuy nhiên, ông không thể tìm được một vị trí giảng dạy và vào năm 1902, ông đã chuyển đến Bern và bắt đầu làm việc tại Văn phòng Sáng chế.

Trong thời gian rảnh rỗi, Albert đã tự tìm hiểu và nghiên cứu lý thuyết vật lý. Năm 1905, ông đã xuất bản 4 bài báo quan trọng giúp ông trở nên nổi tiếng trong thế giới khoa học. Một trong đó có phương trình nổi tiếng E = mc2.

Từ năm 1909 đến năm 1916, Albert đã dành nhiều thời gian nghiên cứu Thuyết Tương đối Tổng quát của mình. Đến năm 1919, những ý tưởng của ông đã được chấp nhận rộng rãi và năm 1921, ông đã được trao giải Nobel Vật lý.

Với sự trỗi dậy của chính phủ Đức Quốc xã ở Đức, Albert không thể ở lại Đức vì dòng máu Do Thái của mình và vào năm 1933, ông chuyển đến Mỹ. Ông ở lại Mỹ cho đến khi qua đời vào năm 1955 và tiếp tục nghiên cứu trong suốt cuộc đời của mình. Năm 1999, ông được tạp chí Time vinh danh là “Nhân vật của thế kỷ”. 

Có thể thấy Albert Einstein là một tấm gương vượt qua số phận và hoàn cảnh của mình. Ông đã không vì hoàn cảnh khó khăn của mình mà dừng bước trong việc cống hiến trí tuệ của mình cho nhân loại cho đến cuối đời.

Ada Lovelace – Lập trình viên máy tính đầu tiên

Ada Lovelace (1815–1852) là một nhà toán học người Anh, người được ghi nhận là lập trình viên máy tính đầu tiên trên thế giới cùng câu danh ngôn ““Bộ não của tôi là thứ gì đó không chỉ đơn thuần là phàm nhân. Thời gian sẽ cho thấy điều đó”. Mặc dù sống ở thời kỳ mà phụ nữ hiếm khi được coi trọng, Ada nhận ra tiềm năng to lớn của những “cỗ máy tính toán” đã phát triển thành những chiếc máy tính mà chúng ta biết hiện nay.

Top 5 câu chuyện về các nhà bác học đáng học hỏi cho đến ngày nay

Ada Lovelace được sinh ra là ‘Augusta Ada Byron’ tại London, Anh vào năm 1815. Bà là con gái của nhà thơ nổi tiếng Lord Byron (George) và Lady Byron (Anne). Tuy nhiên, chỉ vài tuần sau khi bà chào đời, cha mẹ bà đã ly thân. Lord Byron đã rời khỏi nước Anh và Ada không bao giờ gặp lại ông ấy nữa. Bởi ông ấy đã chết ở Hy Lạp khi bà lên 8 tuổi.

Ada đã có một sự nuôi dạy đặc biệt . Các gia sư riêng dạy bà những môn thời thượng như tiếng Pháp và âm nhạc, nhưng theo yêu cầu của mẹ, bà cũng học toán và khoa học – Những môn thường không được dạy cho các cô gái trẻ! Mẹ của Ada đã bắt bà phải chăm chỉ học hành, với hy vọng điều đó sẽ ngăn Ada trở nên giống bố (người tính khí thất thường và khó đoán!)

Ada đã có năng khiếu toán học từ khi còn nhỏ, và thật là một niềm vui cho bà khi 17 tuổi được gặp Charles Babbage , một nhà toán học đáng kính của Đại học Cambridge. Charles đã phát minh ra một loại máy được gọi là “động cơ chênh lệch”, thực hiện các phép tính phức tạp – Một loại máy tính thời kỳ đầu. Charles và Ada đã trở thành bạn tốt của nhau, và ông đã mở rộng tầm mắt của bà đến với toán học cao cấp.

Ada và mẹ của bà đều bị mê hoặc bởi khoa học và thường đến thăm các nhà máy để xem máy móc chạy bằng hơi nước đang hoạt động. Một thiết bị đặc biệt thu hút sự chú ý của Ada là khung dệt Jacquard , dùng để dệt vải dệt hoa văn. Máy dệt sử dụng thẻ đục lỗ để chỉ định thiết kế. Nếu thẻ được đục lỗ, sợi khung cửi sẽ nổi lên; nếu không, sợi khung cửi sẽ đứng yên. Ada nhận ra những hướng dẫn này là một kiểu mã hóa .

Ada cũng kết bạn với Mary Somerville, một trong những nhà toán học nữ tài năng nhất thời bấy giờ. Chính Mary là người đã giới thiệu Ada với William King, người mà cô kết hôn ở tuổi 19. Khi William trở thành Bá tước của Lovelace vào năm 1838, Ada được phong là Nữ bá tước của Lovelace. Họ đã có với nhau 3 người con và giao lưu với nhiều người thú vị thời bấy giờ, chẳng hạn như nhà khoa học Michael Faraday và nhà văn Charles Dickens.

Năm 1843, Ada được yêu cầu dịch một bài báo tiếng Pháp về phát minh mới nhất của Charles Babbage – động cơ phân tích . Ada không chỉ dịch đoạn văn mà còn thêm nhiều bình luận của riêng mình. Trong thực tế, ghi chú của bà ấy dài hơn gấp ba lần so với bài báo gốc!

Công cụ phân tích được thiết kế để thực hiện các phép tính đặc biệt phức tạp. Nhưng Ada đã nhận ra tiềm năng to lớn của nó. Bà đã gợi ý rằng nó có thể làm được nhiều việc hơn là chỉ tính toán – Và giờ chúng ta biết nó là máy tính có thể lập trình đầu tiên.

Ada đã chỉ ra rằng nhiều khái niệm, chẳng hạn như âm nhạc hoặc hình ảnh hoặc bảng chữ cái, có thể được chuyển đổi thành các con số, tạo cơ sở cho các hướng dẫn hoặc mã. Ví dụ, máy có thể soạn nhạc hoặc tạo thiết kế dựa trên các con số. Bà cũng chỉ ra rằng máy có thể lặp lại các hướng dẫn – một quá trình được gọi là ‘lặp lại’ mà máy tính sử dụng ngày nay.

Mặc dù công cụ phân tích chưa bao giờ được tạo ra, nhưng giờ đây nó được coi là mô hình cho một máy tính sơ khai , với các thuật toán của Ada (hướng dẫn bằng văn bản để máy tính tuân theo) được công nhận là chương trình máy tính đầu tiên . Ada đã xuất bản bài báo với tên viết tắt là AAL, nhưng bài báo đã thu hút rất ít sự chú ý trong suốt cuộc đời của bà.

Ada qua đời tại London năm 1852 khi mới 36 tuổi, vì bệnh ung thư tử cung. Theo yêu cầu của bà, bà được chôn cất bên cạnh cha mình, Lord Byron, tại một nghĩa địa ở Nottingham, Anh.

Có thể nói sự đóng góp của bà cho sự phát triển của khoa học máy tính đã không được phát hiện mãi cho đến gần 100 năm sau vào những năm 1950,bà đã được trao rất nhiều danh hiệu sau khi bà đã qua đời. Cuộc đời của Ada ngắn ngủi một cách thê thảm, nhưng di sản của bà chắc chắn sẽ tồn tại trong thời đại phụ thuộc vào máy tính mà chúng ta đã quen thuộc.

Những thành tựu đạt được của Ada Lovelace:

  • Năm 1980, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vinh danh Ada Lovelace bằng cách đặt tên cho một ngôn ngữ máy tính mới là “Ada” để ghi nhận sự cống hiến của bà.
  • Tháng 10 hàng năm (vào thứ Ba của tuần thứ hai trong tháng), Ngày Ada Lovelace được tổ chức như một ngày lễ kỷ niệm quốc tế về những thành tựu của phụ nữ trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.

Qua câu chuyện về các nhà bác học – Ada Lovelace đã cho chúng ta thấy được bài học về sự vượt qua mọi định kiến và sự phân biệt về giới tính. Chỉ cần bạn có đam mê và nỗ lực theo đuổi cùng một trái tim cống hiến thì bạn sẽ thành công.

Alexander Fleming

Alexander Fleming (1881–1955) là một bác sĩ người Scotland và nhà sinh vật học lỗi lạc, nổi tiếng với việc khám phá ra penicillin, loại kháng sinh (diệt vi khuẩn) đầu tiên trên thế giới. Nghiên cứu của ông đã giúp cứu sống hàng triệu người và tạo ra một cuộc cách mạng trong việc điều trị vết thương và các bệnh thông thường.

Top 5 câu chuyện về các nhà bác học đáng học hỏi cho đến ngày nay

Alexander Fleming sinh ra ở Ayrshire, Scotland vào năm 1881. Cha mẹ của ông, Hugh và Grace, đều xuất thân từ các gia đình nông dân. Alexander là một trong bốn người con, nhưng có bốn anh chị em cùng cha khác mẹ từ cuộc hôn nhân đầu tiên của cha mình. Cha ông đã qua đời khi ông chỉ mới 7 tuổi.

Alexander là một đứa trẻ thông minh và năm 11 tuổi đã giành được học bổng vào trường nội trú. Nhưng ở tuổi 13, hầu hết gia đình ông đã chuyển đến London để sống với người anh trai tên Tom, trong khi anh cả Hugh thì ở lại trông coi trang trại của gia đình. Alexander theo học ngành kinh doanh và thương mại tại Học viện Bách khoa Hoàng gia ở Luân Đôn, và làm việc trong một văn phòng vận chuyển, nhưng ông rất chán ghét nó.

Tom Fleming là một bác sĩ, và với sự khuyến khích của anh trai và sự giúp đỡ của một số tiền thừa kế, Alexander đã đăng ký theo học y khoa tại Trường Y Bệnh viện St Mary, nơi ông đủ điều kiện vào năm 1906.

Thời sinh viên, Alexander gia nhập Quân đội Lãnh thổ (TA) . Lúc đó ông nghĩ rằng ông muốn trở thành một bác sĩ phẫu thuật, nhưng sau đó ông đã tham gia nhóm nghiên cứu tại Phòng tiêm chủng , một phần để ở lại với những người bạn TA của mình. Năm 1908, ông tốt nghiệp với bằng cấp cao hơn về vi khuẩn học và huy chương vàng cho sinh viên xuất sắc nhất.

Alexander đặc biệt quan tâm đến khả năng chống nhiễm trùng tự nhiên của cơ thể . Khi chiến tranh bùng nổ năm 1914, ông gia nhập Quân y Hoàng gia và bắt đầu làm việc tại các bệnh viện dã chiến ở Pháp. Ông nhận thấy nhiều binh sĩ chết vì vết thương bị nhiễm trùng vì thuốc sát trùng được sử dụng để điều trị họ đang làm suy yếu hệ thống miễn dịch tự nhiên của cơ thể. Thuốc sát trùng rất hữu ích cho những vết cắt nhỏ, nhưng có hại hơn cho những vết thương sâu. Thay vào đó, Alexander khuyên bạn nên tắm vết thương bằng nước muối và giữ cho chúng sạch sẽ và khô ráo.

Sau chiến tranh, Alexander quay trở lại St Mary’s với quyết tâm tìm ra các chất chống vi khuẩn có thể điều trị các bệnh nhiễm trùng.

Năm 1922, Alexander nhận ra rằng các chất lỏng trong cơ thể, chẳng hạn như nước mắt, nước bọt và chất nhầy, có đặc tính khử trùng. Lúc đó ông bị cảm lạnh, và trong khi nghiên cứu vi khuẩn, một giọt chất nhầy từ mũi ông rơi xuống mẫu. Ông đã rất ngạc nhiên khi thấy xung quanh giọt nước, vi khuẩn đang bị tiêu diệt. Alexander tiếp tục kiểm tra một loạt các chất lỏng trong cơ thể và nhận thấy tất cả chúng đều có một loại enzyme (protein), mà ông gọi là lysozyme . Khám phá này đã truyền cảm hứng cho ông tìm ra một chất có thể tiêu diệt nhiều vi khuẩn gây chết người.

Năm 1928, Alexander trở về sau kỳ nghỉ một tháng với vợ và con trai nhỏ. Ông nhận thấy rằng khi vắng mặt, các mẫu vi khuẩn Staphylococcus đã bị nhiễm khuẩn, và một loại nấm xanh đang phát triển. Hơn nữa, nơi nấm mốc nằm, vi khuẩn đã bị tiêu diệt – giống như với lysozyme. Alexander gọi chất mới là “nước ép nấm mốc”, nhưng sau đó đặt tên là penicillin .

Alexander đã cố gắng trồng nhiều loại nấm hơn để xác định đặc tính của nó. Lần này, nó không phải là một loại enzym mà là một loại kháng sinh tự nhiên có thể tiêu diệt các loại vi khuẩn khác nhau, bao gồm cả những vi khuẩn gây viêm màng não, ban đỏ và viêm phổi. Bây giờ chúng ta biết rằng thuốc kháng sinh ngăn vi khuẩn hình thành thành tế bào mới, do đó chúng không thể phát triển và lây lan. Nhưng Alexander gặp khó khăn trong việc phân lập penicillin khỏi nấm và không thể sản xuất với số lượng lớn để sử dụng làm thuốc.

Tuy nhiên, vào đầu những năm 1940, một nhóm các nhà khoa học tại Đại học Oxford , dẫn đầu bởi Howard Florey và Ernst Boris Chain, đã phát triển những phát hiện của Fleming và quản lý để phân lập, phát triển và tinh chế penicillin thành một loại thuốc có thể sử dụng được, sau đó được sử dụng như một loại thuốc kháng sinh trong Thế chiến II. . Alexander được phong tước hiệp sĩ vào năm 1944 , và năm sau, ông chia sẻ giải Nobel với Florey và Chain , vì đã phát hiện ra penicillin và công dụng của nó chống lại các bệnh truyền nhiễm.

Bản thân Alexander qua đời vì một cơn đau tim vào năm 1955 ở tuổi 73. Tro cốt của ông được chôn cất tại Nhà thờ St Paul, London, để ghi nhận công lao của một người đã mở đường cho y học hiện đại. Phát hiện của ông đã cứu sống hàng triệu người và sẽ tiếp tục như vậy trong nhiều năm trở về sau.

Một số sự thật thú vị

  • Alexander Fleming phát hiện ra penicillin khá tình cờ. Ông đang nghiên cứu đặc tính của một loại vi khuẩn có tên là tụ cầu thì ông phát hiện ra một loại nấm mốc xanh phát triển trong một số mẫu của mình.
  • Trong Thế chiến thứ nhất, bệnh viêm phổi do vi khuẩn đã giết chết 18% binh lính bị thương. Trong Thế chiến thứ hai, con số này giảm xuống dưới 1%, nhờ sự ra đời của penicillin như một phương pháp điều trị.
Trích dẫn của Alexander Fleming

“Đôi khi người ta tìm thấy những gì người ta không tìm kiếm.

Alexander Graham Bell

Alexander Graham Bell (1847–1922) là một nhà khoa học người Mỹ gốc Scotland, nổi tiếng nhất với việc phát minh ra điện thoại. Khi còn trẻ, Alexander đã bị cuốn hút bởi khoa học về âm thanh và đã dành nhiều năm để giúp những người khiếm thính nói được. Các thí nghiệm của ông đã dẫn đến việc tạo ra chiếc điện thoại thực tế đầu tiên, thứ đã thay đổi mãi mãi hệ thống liên lạc của thế giới. 

Top 5 câu chuyện về các nhà bác học đáng học hỏi cho đến ngày nay

Alexander Graham Bell sinh ra ở Edinburgh, Scotland , vào năm 1847, là con thứ trong gia đình. Cha và ông nội của ông (cũng tên là Alexander) đều là giáo sư về elocution (nghệ thuật nói rõ ràng). Công việc của họ được sử dụng để dạy những người khiếm thính cách nói.

Ban đầu Alexander được giáo dục tại nhà, nhưng sau đó được đưa đến trường Trung học Hoàng gia của Edinburgh. Khi ông khoảng 12 tuổi, mẹ Eliza bắt đầu mất thính giác . Alexander trở nên say mê với âm thanh và rất muốn giúp đỡ mẹ mình. Ông ấy sẽ gõ vào cánh tay của bà bằng “ngôn ngữ ngón tay “của riêng mình để giúp bà hiểu những cuộc trò chuyện xung quanh mình. Ông cũng là một người chơi piano xuất sắc và thường xuyên chơi cho mẹ ông nghe.

Alexander là một nhà phát minh nhạy bén từ khi còn trẻ. Khi lên 12 tuổi, ông đã chế tạo một chiếc máy “khử hạt” lúa mì cho gia đình hàng xóm của mình có một nhà máy xay bột. Sau đó ở tuổi 16, Alexander và anh trai Melville của mình đã tạo ra một chiếc đầu robot gần như có thể tạo ra âm thanh của giọng nói con người.

Khi rời ghế nhà trường, Alexander theo học ngành âm học (khoa học về âm thanh) tại Đại học Edinburgh, và tiếp tục giảng dạy về âm thanh và âm nhạc ở Bath, Somerset. Tuy nhiên, bi kịch ập đến với gia đình vào cuối những năm 1860 – đến năm 1870, cả hai anh em của Alexander đều chết vì một căn bệnh gọi là bệnh lao. Năm 23 tuổi, Alexander, cha mẹ và anh trai góa vợ chuyển đến Canada để bắt đầu cuộc sống mới ở đó.

Một năm sau, Alexander nhận việc ở Boston, Mỹ và trở nên nổi tiếng với công việc giúp đỡ những người khiếm thính nói được , đặc biệt là những trẻ em câm điếc. Năm 1872, ông thành lập một trường học để đào tạo các giáo viên khác những kỹ thuật mà cha ông đã phát triển trước ông.

Công việc của Alexander với người khiếm thính đã khiến ông thử nghiệm với các thiết bị trợ thính , và khả năng sử dụng điện để truyền âm thanh. Đến năm 1875, ông đã phát minh ra một loại máy điện báo (máy nhắn tin) gửi tín hiệu dưới dạng các nốt nhạc xuống một sợi dây điện báo. Ông đã cố gắng cải thiện thiết kế của mình và tự hỏi liệu ông có thể gửi âm thanh của giọng người vào dây hay không. Với sự giúp đỡ của trợ lý Thomas Watson, đây chính xác là những gì ông đã làm – Tạo ra chiếc điện thoại thực tế đầu tiên .

Vào thời điểm đó, các nhà khoa học khác cũng đang nghiên cứu theo hướng tương tự, và Alexander phải gấp rút cấp bằng sáng chế cho phát minh của mình . Năm 1876, ba ngày sau khi được cấp bằng sáng chế, Alexander đã nói những lời đầu tiên qua điện thoại với trợ lý của mình – “Ông Watson – Hãy đến đây – Tôi muốn gặp ông.” Trong vòng một năm, Alexander đã thành lập Công ty Điện thoại Bell, bán điện thoại cho công chúng . Mười năm sau, hơn 150.000 người ở Mỹ sở hữu điện thoại và Alexander đã trở thành một người giàu có .

Alexander kết hôn với Mabel Hubbard vào năm 1877. Mabel bị mất thính giác khi mới 5 tuổi sau một cơn sốt ban đỏ nghiêm trọng. Cô từng là học sinh của một trong những trường học dành cho người khiếm thính của Alexander, và cha cô trở thành chủ tịch đầu tiên của Công ty Điện thoại Bell. Alexander và Mabel có với nhau bốn người con, mặc dù hai người con trai đã chết khi còn nhỏ.

Về sau ông tiếp tục với các thí nghiệm khoa học khác và nghiên cứu nhiều thiết bị, chẳng hạn như tàu cánh ngầm, phương tiện bay, máy dò kim loại, máy đo thính lực (một thiết bị phát hiện các vấn đề về thính giác), thiết bị định vị tảng băng trôi và sự phát triển của điều hòa không khí và nhiên liệu thay thế. Năm 1888, Alexander cũng là một trong những thành viên sáng lập của Hiệp hội Địa lý Quốc gia và trở thành chủ tịch của nó trong một số năm.

Alexander mất năm 1922, hưởng thọ 75 tuổi tại nhà riêng ở Canada. Ông đã bị bệnh tiểu đường trong nhiều năm. Sau đám tang của ông, điện thoại trên khắp nước Mỹ im lặng trong một thời gian ngắn, để ghi nhận công lao của người đàn ông đã cách mạng hóa hệ thống truyền thông của thế giới và thay đổi cuộc sống của mọi người mãi mãi .

Alexander Graham Bell trích dẫn

“Khi một cánh cửa đóng lại thì cánh cửa khác sẽ mở ra; nhưng chúng ta thường nhìn quá lâu và tiếc nuối vào cánh cửa đã đóng, đến nỗi chúng ta không nhìn thấy những cánh cửa đang mở ra cho chúng ta. “

“Trước bất cứ điều gì khác, sự chuẩn bị là chìa khóa thành công.”

“Sẽ đến ngày con người khi nói chuyện điện thoại có thể nhìn thấy người mà anh ta đang nói chuyện dù đang ở xa.”

Benjamin Franklin

Benjamin Franklin (1706 – 1790) nổi tiếng với vai trò là một trong những người cha khai sinh ra Hoa Kỳ, ngoài vai trò là một chính khách và chính trị gia, ông còn là một nhà văn, nhà khoa học và nhà phát minh tài năng. Benjamin cũng cải thiện cuộc sống của những công dân bình thường bằng cách thành lập nhiều tổ chức quan trọng vẫn được duy trì ở Mỹ cho đến tận ngày nay. 

Top 5 câu chuyện về các nhà bác học đáng học hỏi cho đến ngày nay

Khi Benjamin 10 tuổi, ông nghỉ học để hỗ trợ công việc kinh doanh của cha mình, làm xà phòng và sản xuất nến. Nhưng Benjamin thích đọc và trở nên cực kỳ thông thái. Cha ông nghĩ con trai mình nên bắt đầu học nghề tại một cửa hàng in do James, anh trai của Benjamin điều hành. Benjamin sớm học được rất nhiều điều về xuất bản báo chí.

Nhưng Benjamin ngày càng cảm thấy không hài lòng khi làm việc không công cho anh trai mình và bỏ trốn đến Philadelphia khi ở tuổi 17. Ông đã bắt đầu làm việc cho một nhà in khác và sống tại nhà của John Read. Benjamin sau đó kết hôn với Deborah, con gái của John và họ có với nhau hai người con, Francis và Sarah. 

Vào khoảng thời gian kết hôn, Benjamin được mệnh danh là chủ nhà in chính thức của Pennsylvania , và sớm điều hành một trong những tòa báo thành công nhất của đất nước. Ông bắt đầu xuất bản sách và chuyển sự chú ý của mình sang khoa học . Không lâu sau, ông là một trong những người giàu nhất Pennsylvania .

Giống như nhiều người đàn ông thời đó, Bejamin thuê nô lệ làm việc cho mình. Nhưng ông bắt đầu nhận ra điều này là sai trái. Ông đã giải phóng nô lệ của mình vào những năm 1760 và vận động cho việc bãi bỏ chế độ nô lệ .

Benjamin cũng cảm thấy có nghĩa vụ to lớn đối với những người lao động bình dân và di sản của ông đã để lại đã được tìm thấy trong nhiều nơi công cộng ở Mỹ ngày nay. Ví dụ, ông đã thành lập thư viện cho vay công cộng đầu tiên ở Mỹ và giúp thành lập bệnh viện công đầu tiên của Mỹ.

Ông cũng là Tổng giám đốc Bưu điện đầu tiên của đất nước , bắt đầu chuyển thư thường xuyên và tổ chức dịch vụ cứu hỏa tình nguyện đầu tiên của Philadelphia . Ông cũng từng đảm nhận một số vai trò trong chính phủ và được công nhận là một chính khách chủ chốt với tư cách là một trong những Người sáng lập soạn thảo hiến pháp Hoa Kỳ khi đất nước tách khỏi sự cai trị của Anh.

Benjamin cũng nổi tiếng với những thí nghiệm về điện . Ví dụ, ông đã chứng minh rằng sét là một loại điện. Một ngày giông bão, ông đã liều mình thả một chiếc diều được gắn vào một chiếc chìa khóa kim loại bằng một đoạn dây. May mắn thay, con diều không bị sét đánh, nhưng Benjamin nhận thấy một tia lửa trên chìa khóa do tích điện.

Sau đó, ông đã phát minh ra dây dẫn sét – Một thanh kim loại được gắn cố định vào các tòa nhà cao tầng để truyền điện xuống đất một cách an toàn trong trường hợp có sét đánh. Ngoài ra những phát minh có tính thực tiễn cao của Benjamin cũng đang được sử dụng cho đến ngày nay đó là thấu kính hai tròng (được sử dụng cho cả tầm nhìn xa và nhìn gần) và bếp lò Franklin (lò sưởi bằng kim loại có hình dạng độc đáo tạo ra nhiều nhiệt hơn với ít khói và nhiên liệu hơn).

Ông qua đời ở tuổi 84 sau khi sức khỏe yếu và được chôn cất bên cạnh người vợ Deborah. Thành phố Philadelphia thương tiếc một người đàn ông đã sử dụng thành công của mình để tạo ra sự khác biệt thực sự và phục vụ cho cuộc sống của những người bình thường, những người lao động bình dân cấp thấp lúc bấy giờ.

Charles Darwin

Charles Darwin (1809–1882) là nhà khoa học người Anh nổi tiếng với thuyết tiến hóa, giúp giải thích những điểm tương đồng và khác biệt được tìm thấy trong thế giới tự nhiên. Charles đã dành cả đời để nghiên cứu các loài trên trái đất và những phát hiện của ông đã cách mạng hóa quan điểm của chúng ta về tự nhiên. Ông thách thức quan điểm cho rằng tất cả chúng sinh đều được tạo ra khi thế giới được hình thành, thay vào đó, ông cho rằng tất cả sự sống đều có nguồn gốc từ một tổ tiên chung.

Top 5 câu chuyện về các nhà bác học đáng học hỏi cho đến ngày nay

Charles sinh năm 1809 tại Shrewsbury, Anh, là con út thứ hai trong gia đình có 6 người con. Cha ông là một bác sĩ và ông nội của ông là một nhà thực vật học, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi Charles cũng thích khoa học .

Mẹ của Charles qua đời khi ông lên tám và sau đó ông được cho đi học ở trường nội trú. Năm 16 tuổi, Charles hoàn thành ước nguyện của cha mình và đến Đại học Edinburgh để học y khoa. Nhưng ông nhận thấy những cảnh tượng đẫm máu và quá nhiều đau khổ ở nơi đây.

Hai năm sau, một lần nữa theo gợi ý của cha mình, ông đến Đại học Cambridge để học để trở thành một giáo sĩ. Nhưng trong suốt thời gian này, Charles quan tâm nhiều hơn đến lịch sử tự nhiên . Ông đã kết bạn với một giáo sư thực vật học, John Henslow, và một giáo sư địa chất, Adam Sedgwick, cả hai đều khiến ông hứng thú với thế giới tự nhiên.

Khi Charles rời trường đại học năm 1831, Henslow đề nghị ông tham gia một chuyến khảo sát vòng quanh thế giới trên một con tàu hải quân, HMS Beagle. Điều này đã cho Charles cơ hội của cả cuộc đời. Chuyến đi được cho là mất hai năm, nhưng thực tế đã mất năm năm. Trong chuyến thám hiểm, Charles đã thu thập các mẫu động vật, thực vật và đá và sử dụng chúng để nghiên cứu thử nghiệm.

Charles đặc biệt quan tâm đến quần đảo Galápagos , nơi ông phát hiện ra nhiều loài độc đáo. Anh nhận thấy rằng một số loài thực vật và sinh vật dường như đã thích nghi để phù hợp với môi trường xung quanh. Ví dụ, mỗi hòn đảo là nhà của một loại rùa khác nhau. Chim sẻ trên các hòn đảo cũng có những chiếc mỏ khác nhau, tùy thuộc vào loại hạt hoặc côn trùng cụ thể mà chúng tìm thấy để kiếm ăn.

Khi trở về vào năm 1836, Charles bắt đầu phát triển lý thuyết về nguồn gốc của các sinh vật. Điều này đi ngược lại với những gì các nhà tự nhiên học tin tưởng vào thời điểm đó – rằng các sinh vật sống được tạo ra khi thế giới bắt đầu và tồn tại tương tự với mỗi thế hệ. Thay vào đó, Darwin đề xuất rằng theo thời gian, các loài phát triển và thay đổi để phù hợp hơn với môi trường của chúng.

Ông gợi ý rằng các loài sống sót thông qua một quá trình gọi là “chọn lọc tự nhiên“- có nghĩa là những cá thể có đặc điểm phù hợp nhất với môi trường xung quanh chúng có nhiều khả năng sống sót và sinh sản hơn, truyền những đặc điểm thuận lợi này sang thế hệ mới, trong khi những đặc điểm ít phù hợp với môi trường hơn sẽ cuối cùng chết đi. Nếu những thay đổi đủ lớn, một loài mới cũng có thể tiến hóa.

Darwin cũng tin rằng tất cả các loài đều tiến hóa từ một tổ tiên chung. Điều này giải thích sự tương đồng giữa các loài động vật có vú khác nhau hoặc giữa các loài côn trùng khác nhau, chẳng hạn. Các loài có chung tổ tiên gần đây hơn có quan hệ họ hàng gần hơn. Ví dụ, ý tưởng mang tính cách mạng này cho rằng loài người có chung tổ tiên gần đây với loài vượn.

Charles biết ý tưởng của mình đã đi ngược lại niềm tin tôn giáo rằng tất cả thiên nhiên đều đến từ Chúa. Ông tiếp tục nghiên cứu của mình cho đến khi bị thuyết phục, và vào năm 1859, công bố ý tưởng của mình trên tạp chí Về nguồn gốc các loài bằng phương pháp chọn lọc tự nhiên . Một cuốn sách bán chạy quốc tế, cuốn sách cũng gây ra nhiều tranh cãi . 

Charles qua đời vào năm 1882 và vì công việc của đời mình, ông đã được vinh dự chôn cất tại Tu viện Westminster ở London. Trong thế kỷ sau đó, bằng chứng từ DNA đã giúp xác thực những phát hiện của ông – mặc dù ngày nay những ý tưởng của ông vẫn còn gây tranh cãi.

Sự thật thú vị : Charles Darwin đã được vinh danh vì công việc của mình theo nhiều cách. Chân dung của ông từng xuất hiện trên mặt sau của tờ 10 bảng Anh. Bức tượng của ông được đặt tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên của London, tại Đại học Cambridge và tại nơi sinh của ông, Shrewsbury. Hơn 250 loài cũng đã được đặt tên theo Darwin, chẳng hạn như bọ cánh cứng darwinilus sedarisi, cũng như các địa điểm, bao gồm thành phố Darwin ở Úc và đảo Darwin thuộc quần đảo Galápagos.

“Nó không phải là loài mạnh nhất trong số các loài sống sót, cũng không phải là loài thông minh nhất, mà là loài phản ứng nhanh nhất với sự thay đổi.” – Charles Darwin

Trên đây là một số câu chuyện về các nhà bác học nổi tiếng được biết đến với sự khiêm nhường, biết vượt qua những thách thức của dư luận, những định kiến cổ hủ lúc bấy giờ mà từng bước khẳng định tài năng cũng như tìm kiếm sự thật của tạo hóa.

Qua đây Theogotvinhan.com cũng muốn nhắn nhủ đến các bạn trẻ một điều – Cuộc sống vốn dĩ trăm lời mười ý, do đó điều quan trọng cho sự thành công đó là bạn phải thực sự kiên định và vững tâm với ước mơ của mình. Chỉ cần bạn chú tâm thực hiện thì mọi điều dèm pha, khó khăn ắc tự trở thành tấm thảm trải dẫn lối cho sự thành công của bạn.

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on tumblr
Share on pinterest
0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x